Print (Ctrl+P)

NIỀM ĐAM MÊ ĐAN LEN VÀ TẤM LÒNG LAN TỎA YÊU THƯƠNG CỦA CÔ GIÁO VỚI NHỮNG BỆNH NHÂN BỆNH VIỆN K

Tôi chọn viết về em, một cô giáo giữa đời thường. Nhưng tôi không muốn kể về em với tư cách một cô giáo dạy Tiếng Anh kiêm Tổng phụ trách Đội say nghề, yêu trẻ, đã từng đạt danh hiệu Tổng phụ trách giỏi cấp tỉnh, cấp Quốc gia…

Tôi chọn viết về em, một cô giáo giữa đời thường. Nhưng tôi không muốn kể về em với tư cách một cô giáo dạy Tiếng Anh kiêm Tổng phụ trách Đội say nghề, yêu trẻ, đã từng đạt danh hiệu Tổng phụ trách giỏi cấp tỉnh, cấp Quốc gia… Mà tôi viết về em với những câu chuyện đời thường, giản dị với niềm đam mê đan len và sự đồng cảm, sẻ chia, tình yêu thương thật lớn của em dành cho những bệnh nhân đã và đang điều trị bệnh K. Người đó là cô giáo Nguyễn Phương Lan – giáo viên nguyên Tổng phụ trách Đội Trường THCS Lê Quý Đôn, thành phố Hòa Bình.

Cô giáo Nguyễn Phương Lan- Trường THCS Lê Quý Đôn

1. Khởi nguồn của đam mê

          Lần đầu tiên tôi để ý đến cô giáo Lan là trong một buổi hoạt động ngoại khóa của trường em đã tranh thủ đan len… Ấn tượng của tôi lúc đó là sự khó chịu pha chút bực bội về một giáo viên tranh thủ làm việc riêng trong hoạt động tập thể… Mặc dù suốt thời gian ngoại khóa, em hoàn thành tốt việc được giao, quan sát, quản lí học sinh tốt, thực hiện đầy đủ các công việc và chỉ đan len khi ngồi nghe, xem các hoạt động của học trò… Nhưng cái hình ảnh cuộn len giấu trong túi, sợi len màu xám thò ra ngoài và cái tay hí hoáy dưới gầm bàn của em vẫn khiến tôi khó chịu. Cuối buổi, tôi vẫn gọi em đến trao đổi, rút kinh nghiệm… Và tôi bỗng hiểu em hơn, hiểu về những cuộn len, những đôi kim đan các cỡ luôn trong túi bên em và những sản phẩm len từ đôi tay miệt mài của em đã đến được với bao người…

          Em kể: Thời bao cấp. Những năm 80 của thế kỉ XX. Nhà em có 6 đứa con trứng gà, trứng vịt. Bố mẹ em là cán bộ nhà nước, bố là giáo viên và mẹ là kế toán với đồng lương “ba cọc, ba đồng”, gạo sổ, thịt cá, áo quần đều mua từ cửa hành mậu dịch bằng tem phiếu để nuôi cả một đàn con... trong kí ức của em, mẹ thật là vĩ đại. Những buổi sáng mùa đông lạnh cắt da, cắt thịt, trong cái gió thổi vào từ sông Đà kèm theo hơi lạnh của núi đá, mẹ dậy từ 4 giờ sáng làm bánh sắn (luộc sắn tươi lên cho thêm chút muối rồi giã nhuyễn, nặn tròn bằng nắm tay) để mỗi đứa con có 1 cái khi ngủ dậy ăn để đến trường đi học. Mỗi buổi tối mùa hè, mẹ luộc sẵn mươi quả chuối (cắt dần từ buồng chuối xanh trên cây ngoài vườn) cũng để sớm dậy bố con có cái lót dạ… Suốt cả ngày bố mẹ đi làm rồi tối đến, sau bữa cơm tối, khi bố ngồi bên ấm nước vối chấm bài thì mẹ lặng lẽ ngồi bên cạnh giở cuộn len, sợi các màu với đôi kim đan mẹ tự vót bằng tre già, mũi hun lửa sáng bóng màu đồng… thoăn thoắt đan cho chồng, cho con từ chiếc khăn quàng, đến những chiếc áo len cho mùa đông sắp tới (em bảo: gọi là len cho sang chứ thực ra chủ yếu là sợi tháo từ mấy cái chăn chiên đã cũ mèm, vứt đi thì hoài của, có khi cả là chiếc chăn mẹ xin từ nhà bà ngoại bỏ đi, mẹ dỡ ra cuộn từng cuộn sợi gọn gàng để dành đan áo). Từ những thứ tưởng như vứt đi ấy, dưới đôi tay khéo léo và con mắt thẩm mỹ của mẹ, bố - nam nhân duy nhất trong nhà được ưu tiên xong trước với chiếc áo dài tay, cổ lọ vặn thừng rất nam tính. Kết thúc mùa thu, lúc gió mùa đông bắc tràn về cũng là lúc 6 chị em có đủ 6 chiếc áo gi lê với 6 kiểu hoa văn khác nhau (6 chị em đã từng ghen tị mãi với bố về chiếc áo dài tay, chỉ bây giờ mới hiểu, mẹ đan áo gi lê vì đâu có đủ sợi để đan áo có tay). Em là út ít nên rất thích khi được áo màu hồng lại có hoa văn là những nụ hồng chúm chím... Cái áo ấy đã từng mất rồi lại được những người làng ở quê nhặt được đem trả lại đã trở thành một phần kí ức tuổi thơ và khiến em yêu quê hương hơn, yêu những con người xa lạ nhưng bình dị và tốt bụng đến suốt cả cuộc đời… Em nhớ rõ,  mẹ không có chiếc áo len, cũng không có khăn len, mẹ đã không đan đồ len nào cho mình cả… Đến bây giờ nghĩ, mỗi khi gặp mẹ hay nhớ lại điều này, em vẫn thấy cay nơi sống mũi, thương mẹ đến xót xa.

Gia đình thời bao cấp và chuyện những chiếc áo len

Và hình ảnh mẹ ngồi cặm cụi bên ánh sáng leo lét của chiếc đèn dầu, đan áo cho chồng, cho con như tạc tượng trong tâm hồn em… Em mơ ước học nghề đan len của mẹ và muốn đan giỏi như mẹ. Đó là khởi nguồn của đam mê…


2. Đam mê lớn dần theo năm tháng

Lần đầu tiên, em lấy trộm đôi đũa vót que đan, xin mẹ len vụn để học mót cách đan len, lúc đó em đang học Vỡ lòng (chắc 5 tuổi gì đó). Em không nhớ rõ nhưng mẹ thì nhớ rất rõ: mỗi buổi tối, trong lúc các chị chụm đầu học bài với sự giám sát nghiêm khắc của bố thì em nghiêng đầu bên ánh đèn dầu leo lét của mẹ, đôi mắt nhìn tay mẹ thoăn thoắt đan len (lúc này mẹ không chỉ đan len cho con mà bắt đầu đan giúp cho các cô, các dì ở hàng xóm, cơ quan và đổi lại, thỉnh thoảng các cô lại biếu túi ngô luộc, nướng nóng hổi trong mùa đông hay túi lạc tươi dỡ ở vườn nhà tăng gia, bố và các con có thêm món lạc giã dập nấu sền sệt ăn với cơm thì thật là ngon khủng khiếp…). Mẹ vẫn nhớ, em vừa nhìn mẹ đan, vừa hí hoáy học theo, mũi kim cũng chíu xuống, vắt lên như tay mẹ, rồi chốc chốc đoạn len ngắn đã hết, lại rút kim ra đan lại từ đầu không hề biết chán… Mẹ từ thái độ mặc kệ, coi việc đan của em là trò trẻ con đến ngạc nhiên khi những mũi đan của em đã đều hơn, rồi thật bất ngờ khi em đã đan được chiếc khăn vuông nhỏ đơn giản, rồi đan xong mảnh hình chữ nhật khâu cuốn tròn làm áo cho em mèo mướp suốt ngày kêu meo meo khỏi phải vùi vào bếp tro để tránh rét… Và mẹ bắt đầu dạy thêm cho em những kiểu đan hoa văn, đan vặn thừng, đan quả trám, đan bỏ mũi… Năm học lớp 3, đôi tay vụng về ngày nào của em đã hoàn thành được chiếc áo gi lê cho chính mình, cả nhà ai cũng cười, chắc bởi những mũi đan chưa đều, chiết tay, chiết nách chưa khéo, nhưng nhìn mắt mẹ lấp lánh như hơi ươn ướt và lời mẹ khen em khéo tay đã khiến em vui sướng, lâng lâng suốt mấy ngày trời. Và chiếc áo do chính mình tự đan nên em đã mặc nó suốt 4, 5 năm liền…

Những năm học phổ thông, những trò chơi của một thời “dữ dội” với bao trò thú vị: trèo cây, tắm sông, theo các chị lên rừng chặt nứa đan cót, lấy củi… phần nào nhạt đi việc đan len của em. Nhưng rồi em thành thiếu nữ, những năm học Cao đảng Sư phạm em lại lên giảng đường cùng những cuộn len (lúc này đúng là len: len các màu của miền nam rồi của Tiệp, của Nga theo các anh chị xuất khẩu lao động đem về, theo những công nhân ở công trường thủy điện Sông Đà từ nước Nga xa xôi đem sang Việt Nam) là niềm hạnh phúc mỗi ngày của em. Em nhớ mãi, mỗi khi có tiền học bổng, việc đầu tiên của em là ra chợ thị xã, sà vào hàng len, dán mắt vào cái tủ kính có những con len đủ sắc màu, tính toán ước lượng tiền, chọn màu mua cho bằng hết số tiền đang có… Cô dì, chú bác, bạn bè biết em thích đan móc nên có dịp gì lại tặng quà em là những cuộn len, con len… Bộ sưu tập len và những sản phẩm “handmade by Lan” trở thành quen thuộc với người thân của em trong suốt những năm sinh viên…

Rồi khi ra trường, đi làm cô giáo, xây dựng gia đình, có con… Em lại trở thành bản sao của mẹ, ngoài giờ soạn bài, chấm bài lại cặm cụi đan khăn, quần áo, mũ cho chồng, cho con… Những sản phẩm len chứa chất cả tình yêu và đam mê trong suốt những năm tháng hai con nhỏ học tiểu học. Trước đây, em đã từng nghĩ về mẹ: Hình như vì nghèo khó mà phụ nữ đảm đang, khéo léo hơn nhưng khi mình là “chân truyền” của mẹ thì em hiểu rằng: Tình yêu và đam mê khiến con người ta có thể làm được nhiều việc tưởng như không thể. Và tình yêu với đôi kim đan, kim móc đồ len của em cứ lớn dần theo năm tháng như vậy…


          3. Duyên phận với những bệnh nhân K

          Em kể với tôi về duyên phận với những bệnh nhân K với câu chuyện về đan “quả “vinamilk”, “đôi gò bồng đảo”, những chiếc mũ len tặng bệnh nhân K bằng giọng nghẹn ngào và đôi mắt ầng ậng nước…

          Kết nối những lời kể theo cảm xúc của em, tôi có một câu chuyện khá hoàn chỉnh. Đó là từ ham mê đan, móc len sợi, em tham gia một diễn đàn đan len trên mạng xã hội và thật tình cờ và cũng xót xa: một em gái trong nhóm đó được chẩn đoán bị K phải nhập viện điều trị K vú ở cơ sở 3 Bệnh viện K Tân Triều, Hà Nội. Chuyến đi thăm em gái đó (vâng, em đã giàn giụa nước mắt khi nói với tôi rằng: cô bé kiên cường đó giờ đây không còn nữa)  đã khơi nguồn cho việc em tham gia Câu lạc bộ thiện nguyện đan những quả len “đôi gò bồng đảo” tặng chị em ở Câu lạc bộ phụ nữ kiên cường (những bệnh nhân bị K vú) mà chị em cứ vui vẻ trêu đùa là “quả sung sướng”. Em nói: phụ nữ trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng mong muốn được xinh đẹp và cần được tự tin, em thương các chị 5 phần thì cảm phục các chị 10 phần, các chị thực sự là các chiến binh kiên cường lạc quan chiến đấu với bệnh tật từng ngày, từng giờ, từng phút...

          Chỉ trong một thời gian rất ngắn (Lan nói em không nhớ được rõ là bao lâu), nhưng em đã tranh thủ mọi lúc, mọi nơi để đan được 50 quả “đào tiên”, gửi cho các chị em đang điều trị K vú, và rất nhiều người trong đó chỉ cần dùng một quả, trong đó có cả những chị em từ thành phố Hồ Chí Minh nhận xong đã vui mừng mặc áo dài để khoe dáng trong niềm hạnh phúc… Sau chuyến đi thăm bệnh nhân K, chứng kiến khao khát, mơ ước về cái đẹp đang bị khiếm khuyết, em trở về bỏ tiền túi mua len và tiếp tục đan, móc “Đào tiên” với các kích cỡ khác nhau và mang xuống tặng các chị. Em bảo không quên được hình ảnh các chị cười mà mắt ngấn nước, trêu đùa nhau, hồn nhiên đeo thử “quả sung sướng” bằng len, sợi được tặng. Em nhìn mà chỉ biết khóc trong xúc động và yêu thương… “Đôi gò bồng đảo” được đan, móc bằng len lại thêm một lần đem lại niềm vui cho một bậc tiền bối đã nghỉ hưu ở chính ngôi trường em dạy. Đó là việc khi em biết tin một cô giáo cùng trường khi nghỉ hưu đã phải phẫu thuật cắt bỏ toàn bộ phần ngực, em đã sang nhà, tặng cô đôi “gò bồng đảo”. Cô ôm lấy em và lặng lẽ khóc, cô bảo: cô hạnh phúc lắm! Những hình ảnh ấy in đậm trong tâm trí em, là động lực để em nuôi dưỡng niềm đam mê đan len hòa trong công tác thiện nguyện với tấm lòng thương mến và cảm phục dành cho bệnh nhân viện K.


          Câu chuyện đan len của em lại có một bước ngoặt mới. Đó là giai đoạn những năm 2015, 2016, chính em và gia đình phải đối diện với thử thách rất lớn, có lúc gần như tuyệt vọng. Đó là khi cậu con trai út, mắc trọng bệnh phải nằm viện Bạch Mai cả tháng trời và đến giờ vẫn phải tái khám điều trị. Em bảo: đó là giai đoạn khó khăn, tuyệt vọng nhất của em và cả gia đình. Em đã phải thức đêm cả tháng trông con bên giường bệnh trong tâm trạng rối bời... Những ngày trông con, nhìn con ngủ thiêm thiếp, bao lo lắng bộn bề khiến em tưởng như kiệt sức thì hình ảnh giường bệnh ở bên có hai mẹ con, con gái nhỏ bị K phải truyền thuốc, tóc rụng từng mảng rồi trọc hết cả đầu đã ám ảnh em. Như một thói quen vô thức, em ra chợ ngoài cổng viện, mua vài ống len (thực sự lúc này em đang tiết kiệm từng đồng lẻ để lo chữa trị dài hạn cho con trai), tranh thủ chuỗi thời gian dài lê thê trong bệnh viện, đan cho cô bé một chiếc mũ nho nhỏ, xinh xinh hình quả dưa với quả bông nhỏ lúc lắc trên chỏm đầu. Bỗng dưng được tặng quà, lại là chiếc mũ xinh xinh, vừa ấm áp vừa che được cái đầu trọc lốc, cô bé thích lắm, niềm vui long lanh trong ánh mắt, nụ cười của bé như làm ấm hồng đôi gò má vốn gầy gò xanh xao khiến em thực sự xúc động. Cô bé nhân được quà, đi đâu cũng đội trên đầu và khoe với mọi người, rồi từ sự kết nối của người mẹ của bé gái, các mẹ khác có con bị rụng hết tóc trong khoa cũng đến đặt đan mũ cho các bé. Em miệt mài đan cả chục cái… Khi tặng cho các bé, không chỉ các bé mà các mẹ cũng hớn hở vui vẻ vì cô Lan không lấy tiền mua len cũng chẳng nhận tiền công đan. Và em bảo, em cũng được rất nhiều: em tìm thấy niềm vui, vượt qua chính tuyệt vọng của bản thân để chia sẻ niềm vui, nụ cười của các bé, các mẹ. Em cũng biết rằng nhiều bé đã mang theo cả niềm vui, cả nụ cười hạnh phúc và món quà nhỏ của cô Lan về một miền xa thẳm, không dây truyền, không kim tiêm, không đau đớn…

          Cho đi không hề nghĩ đến nhận lại nhưng Lan bảo, em cũng từng nhận lại. Đó là câu chuyện về một mẹ có con đã từng nhận quà và nhận sự động viên, những bài học tiếng Anh đầu tiên của cô Lan khi ở viện K sau này cậu bé về nhà đã thường xuyên nhờ mẹ liên lạc qua điện thoại với cô Lan. Có một lần, cách đây chắc đã 3 năm, cậu bé khẩn khoản mong muốn được tặng cô Lan một kỉ vật, đó là con chó nhỏ. Cậu bé bảo muốn cô Lan nuôi “em ấy” để luôn nhớ đến cháu. Và em cún đó đã được gửi lên từ vùng quê nghèo ở Thái Bình, phải qua tới ba chặng xe mới lên đến nhà chủ mới, khi đó, nó chừng hơn một tháng tuổi, bé xíu và run rẩy trong cái hộp giấy nhỏ được bọc lót cẩn thận… Em nhận quà mà rơi nước mắt và mỗi lần chăm sóc Ben (là tên em đặt cho cún con), em lại dâng trào kỷ niệm và cảm thương những bệnh nhân K, trong đó có những bé có mái đầu trọc lốc… Cách đây hơn một năm, cậu bé đó cũng đã bỏ cha mẹ mà đi (Lan kể mà nghẹn ngào xúc động) nhưng hai bà mẹ, hai gia đình vẫn liên lạc với nhau và Ben chính là cầu nối trong những câu chuyện của hai bà mẹ… Và đó cũng là cơ duyên, là động lực để em tiếp tục đan len, móc “quả sung sướng” tặng hạnh phúc cho các chị mất một phần vẻ đẹp nữ tính, đan mũ tặng niềm vui và nụ cười trong trẻo cho các bé trọc đầu… Em bảo: em làm vì một niềm tin gieo yêu thương để yêu thương lan tỏa và còn mãi.


          4. Thay cho lời kết

Tôi nhớ lời dạy của Mẹ Teresa: “Không phải tất cả chúng ta đều làm được những điều vĩ đại. Nhưng chúng ta có thể làm những điều nhỏ nhặt với tình yêu vĩ đại”.

Cuộc sống vốn muôn màu muôn vẻ với biết bao cảnh đời. Lan cũng vậy, em cũng đã phải vượt qua bao khó khăn của cuộc sống thường nhật… Em cũng đã trải qua cả một tuổi thơ thiếu thốn, những năm tháng tuổi trẻ với đồng lương giáo viên ngoài biên chế không đủ chi tiêu, với những ngày nắng, ngày mưa oằn mình đẩy xe lên dốc cầu phao qua sông Đà để đến với học trò trên kênh, vào lớp rồi vẫn lo con đang ốm sốt ở nhà không có ai trông… Em cũng đã trải qua những cảm xúc tưởng đến chết đi, sống lại khi con trai nhỏ lâm trọng bệnh… Viết đến đay tôi bỗng nhớ đến một câu văn của Nam Cao trong truyện ngắn “Lão Hạc”: “Một người đau chân có lúc nào quên được cái chân đau của mình để nghĩ đến một cái gì khác đâu?”. Nhưng em đã không vậy, em dù đang đau chân lại tạm không nghĩ đến cái chân đau của mình mà lo cho cái răng đau của người bên cạnh… Biết bao người dã nhận được món quà của em. Biết bao người đã hạnh phúc rơi nước mắt, không ngừng lời cảm ơn khi nhận món quà yêu thương từ một người xa lạ… Em trao tặng những món quà bé nhỏ tuy không có giá trị về vật chất nhưng đem lại niềm vui lớn lao cho những người phụ nữ kém may mắn, những chú bé – những chú lính chì dũng cảm, tiếp thêm cho họ sức mạnh, giúp họ thêm kiên cường, lạc quan tin vào bao điều tốt đẹp trong xã hội, đó là Chân Ái em nhận được và em hạnh phúc vì điều đó. Sở thích trẻ thơ ngày nào đã trở thành đam mê và cao hơn đó là khát khao gieo mầm cho những niềm vui và hạnh phúc, chả biết tự bao giờ đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của em…


                                                                          TP. Hòa Bình, ngày 25 tháng 3 năm 2020

 

P/s: Em nói: kể cho chị những kỉ niệm mà em không thể kìm nén được cảm xúc.

Em đã khóc vì thương mẹ cả đời vất vả, thương cha đã khuất bóng

Và thương các chị em đã gặp để trao “vinamilk”, các bé với ánh mắt biết cười khi nhận mũ nay không còn nữa…


 Tác giả : Phạm Thị Hải Châu – Trường THCS Lê Quý Đôn, TP Hòa Bình

Internet
Văn phòng